Khi những ngày cuối tháng 11 âm lịch chạm ngõ, lòng người lại nao nao nhận ra Tết đang đến rất gần. Ngoài phố, các cửa hàng hoa bắt đầu tấp nập, những chậu cúc, chậu mai khoe sắc sớm như lời báo hiệu mùa xuân đã về. Giữa dòng người hối hả hôm nay, tôi bất chợt nhớ da diết về cái Tết ngày xưa – một cái Tết giản dị, nghèo khó nhưng ấm áp vô cùng.
Ngày ấy, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Hầu như nhà nào cũng khó, nên Tết là dịp hiếm hoi lũ trẻ được mẹ sắm cho một bộ quần áo mới. Bộ quần áo Tết cũng chính là “áo vía” để mặc đi học đầu năm. Tôi nhớ như in cảm giác háo hức khi mẹ mua cho đôi dép nhựa mới, mùi nhựa còn thơm, cứ lôi ra so chân, ngắm nghía mãi mà không dám mang. Phải chờ đúng sáng mùng Một Tết, mang vào mới trọn vẹn niềm vui.
Tết ngày xưa cũng là mùa của bánh trái và sum vầy. Những ngày cận Tết, khắp xóm làng rộn ràng không khí làm bánh. Thơm nhất là bánh in bằng bột nếp, giản dị mà đậm hồn Tết. Nếp được rang vàng, xay mịn, trộn cùng đường tán và chút nước gừng cay ấm, rồi ép vào những chiếc khuôn gỗ chạm hình vuông, hình tròn. Khi bánh được nén chặt, người lớn dùng chày gõ nhẹ để bánh rơi ra, đem nướng trên than hồng đỏ lửa.

Lũ trẻ chúng tôi cứ thế đi hết nhà này sang nhà khác “làm bánh phụ”, mà thực ra là để được… ăn ké. Phần thưởng là những chiếc bánh hỏng, hay chút bột bánh rơi vãi sau khi nướng, được xúc ăn ngon lành.
Ngoài bánh in, còn có bánh ít, bánh khổ khổ, bánh thuẫn… – mỗi loại bánh là một mùi hương, một ký ức khó quên của Tết quê nghèo.
Tôi còn nhớ những ngày Tết đi thăm bà con, thầy cô, bạn bè. Dăm ba đứa trẻ túm tụm, xúng xính quần áo mới, dắt nhau đi bộ trên những con đường gập ghềnh, xa tít tắp mà chẳng thấy mỏi chân.
Tết bây giờ đủ đầy hơn, tiện nghi hơn. Trẻ con vẫn háo hức chờ lì xì, nhưng dường như không còn cái rộn ràng của những ngày cùng cha mẹ chuẩn bị Tết như xưa. Mọi thứ có thể mua sắm dễ dàng, nhưng ký ức Tết nghèo mà ấm ấy, vẫn là điều khiến người ta nhớ mãi mỗi độ xuân về.

